Trọng học PHOTOSHOP Phần 1

Làm quen với Photoshop – Những tính năng cơ bản của phần mềm chỉnh sửa ảnh dành cho digital artist.

Trọng học photoshop với thiên hướng thiên về vẽ, và chỉnh sửa ảnh ( vẽ là chính, chỉnh ảnh là phụ – chỉnh ảnh mình gần như làm hoàn toàn bằng lightroom).

I Lịch sử Photoshop

1987, Thomas Knoll tạo ra 1 phần mềm chỉnh độ sáng của ảnh có tên là Display. John Knoll – anh trai của Thomas – đang làm kỹ xảo tại Industrial Light & Magic đã nhận ra tiềm năng của phần mềm này, nên đã cùng em trai phát triển thành một công cụ chỉnh sửa ảnh chuyên nghiệp và đổi tên nó thành ImagePro.

9 – 1988, Adobe mua lại quyền phân phối phần mềm. Sau đó phần mềm được đổi tên thành Photoshop.

1990, Photoshop 1.0 được phát hành, dành riêng cho Macintosh.
Đến phiên bản Photoshop 2.5 thì phần mềm chính thức có mặt trên Windows. Sau đó, Adobe mua lại hoàn toàn phần mềm này từ 2 anh em nhà Knoll. Photoshop 3.0 phát hành với tính năng quan trọng và đặc trưng của phần mềm cho đến hiện tại – đó chính là Layer.
Đến bản Photoshop 7.0 thì phiên bản tiếp theo được đổi tên thành Photoshop CS. Và thay gì Photoshop CS7 chúng ta có Photoshop CC – chính thức chuyển sang hình thức cho thuê phần mềm dưới dạng dịch vụ.
2023 thì AI chính thức được thêm vào phần mềm này.

Photoshop dành cho những ai?
Có 3 nhóm người dùng chính của phần mềm : nhiếp ảnh gia, thiết kế đồ họa và digital artist.
Với mỗi nhóm thì họ có một nhóm công cụ và chức năng dùng không quá giống nhau.

II Bắt đầu và Tùy biến giao diện

Ctrl N – Để tạo tệp mới.
Một vài thông số cần quan tâm :

  • Resolution – PPI : Số điểm ảnh xếp hàng trên 1 In chiều dài. 72ppi cho social, 300ppi cho in ấn, in ấn cở lớn xem từ khoảng cách xa 72 đến 150ppi.
  • Color Mode : RGB color – dùng khi tạo sản phẩm xem trên màn hình. CMYK – dùng khi sản phẩm cần in ấn.

Giao diện của PS bao gồm : khu vực làm việc, menu bar,options bar, toolbar, panels – có thể tắt bật panels bar trong window của menu bar (hoặc chọn reset essentials để trả về giao diện mặc định).

Tùy nhu cầu, chúng ta có thể chọn những tùy chỉnh giao diện sẳn để phù hợp trong windows -> workspaces

Tùy chọn khi xuất file : Phần Quality trong phần Jpeg Options chỉ cần chọn 8 là được, nó vừa cho ra hình ảnh đạt mức high quality, lại vừa không làm cho dung lượng ảnh bị quá cao.
Ảnh PNG vẫn có nén nhưng sẽ không nén nhiều bằng ảnh Jpeg, nên nó thường cho ảnh có chất lượng nét, nhiều thông tin hơn, và thể hiện được phần trong suốt.

III Blending Mode

Blending Mode – sự hòa trộn của các mãng màu.

Ví dụ: Khi vẽ màu đỏ lên màu xanh, để normal thì màu đỏ sẽ che lên màu xanh, còn chọn các mode khác nó sẽ quyết định sự hòa trộn của 2 màu này với nhau như thế nào ( cộng lại, sáng lên, tối đi hay chỉ giữ lại ánh sáng).

  • Nhóm làm tối – Tiêu biểu là Multily – lấy màu vẽ nhân với màu bên dưới để cho ra một màu tối hơn, Màu đỏ + Màu vàng mode multiply sẽ là Màu Cam rất tối, thường dùng để vẽ shadow, đổ bóng.
  • Nhóm làm sáng – Screen – Ngược lại multily, ta thu được màu vàng rất sáng, nó lọc màu tối giữ lại màu sáng, dùng vẽ highligt hoặc hiệu ứng phát sáng glow.
  • Nhóm tương phản – Overlay, Softlight – Vừa làm sáng vùng sáng, vừa làm sáng vùng tối, giúp tạo khối và tăng độ rực rỡ, thu được màu cam rực rỡ tươi sáng.
  • Nhóm màu sắc – Color – Chỉ thay đổi màu sắc Hue, sắc độ Satulation, giữ nguyên lại sáng tối Luminosit, chúng ta chọn màu gì thì hình vẽ ra có màu đó, nhưng vẫn giữ nguyên độ sáng tối của màu cũ, thường áp dụng để tô màu cho 1 hình trắng đen có sắc độ.
Lưu ý quan trọng: Thay đổi Blending Mode trong bảng Layer giúp tạo một lớp phủ an toàn, dễ sửa đổi. Thay đổi Blending Mode trên thanh Options bar của Brush sẽ vẽ chết màu vào hình, không thể cứu vãn sau này.
Mot khu vuon kieng la tren tang thuong giua thanh pho
kieng la vuon trong nha vuon trong thanh pho

Flow (lưu lượng mực) và Opacity (độ trong suốt) khá giống nhau, khác nhau ở việc khi tô đè 1 điểm thì opacity không làm điểm đó đậm màu lên miễn là bạn chưa nhất bút lên, còn flow thì nó sẽ làm đậm lên.